Trình bày các loại thời giờ làm việc theo quy định của pháp luật lao động hiện nay?

Hỏi: Trình bày các loại thời giờ làm việc theo quy định của pháp luật lao động hiện nay?

Đáp:

  1. Thời giờ làm việc bình thường

Thời giờ làm việc bình thường được quy định trên cơ sở tiêu chuẩn hoá thời giờ làm việc biểu hiện bằng việc quy định số giờ làm việc trong một ngày đêm, một tuần lễ hoặc số ngày làm việc một tháng, một năm. Trong đó, việc tiêu chuẩn hoá ngày làm việc, tuần làm việc là quan trọng nhất, là cơ sở để dễ dàng trả công lao động và xác định tính hợp pháp của các thoả thuận về thời giờ làm việc. Thời giờ làm việc bình thường chính là việc quy định độ dài thời gian làm việc của người lao động trong một ngày đêm (24 giờ) và số giờ hoặc ngày làm việc trong 1 tuần lễ tương ứng với 7 ngày.

Ở Việt Nam, bằng việc quy định khung tối đa, thời giờ làm việc của người lao động được xác định ‘‘không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần” (khoản 1 Điều 105 Bộ luật lao động năm 2019). Trong trường hợp quy định thời gian làm việc theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong một ngày nhưng không quá 48 giờ trong một tuần. Để đảm bảo hơn nữa quyền nghỉ ngơi của người lao động, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.

Đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc một số đối tượng lao động có đặc điểm riêng như phụ nữ có thai, lao động chưa thành niên, cao tuổi… thì thời giờ làm việc được rút ngắn hơn thời giờ làm việc bình thường mà người lao động vẫn hưởng nguyên lương. Những đối tượng áp dụng thời giờ làm việc rút ngắn được giảm từ 1 đến 4 giờ làm việc mỗi ngày tuỳ từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn người lao động làm công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm theo danh mục thì thời gian làm việc tối đa không quá 6giờ/ngày, lao động nữ làm công việc nặng nhọc độc hại, mang thai từ tháng thứ 7 trở lên được giảm bớt 1 giờ làm việc/ngày, trong thời gian lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút/ngày (khoản 4 Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019). Đối với lao động dưới 15 tuổi thời giờ làm việc không quá 4 giờ/ngày và 20 giờ/tuần (khoản 1 Điều 146 Bộ luật lao động năm 2019). Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (khoản 2 Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019).

  1. Thời giờ làm thêm

Thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc của người lao động ngoài phạm vi thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thoả ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động, do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận. Về hình thức thì việc quy định làm thêm giờ mâu thuẫn với ý nghĩa và nguyên tắc bảo vệ người lao động, song làm thêm giờ cũng được nhìn nhận như một nhu cầu tất yếu, khách quan vì lợi ích của cả hai bên chủ thể trong quan hệ lao động. Do vậy, pháp luật lao động Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước cũng đều quy định thời giờ làm thêm nhưng gắn liền với những điều kiện khắt khe, nhằm tránh sự lạm dụng từ người sử dụng lao động. Những quy định về thời giờ làm thêm tập trung vào điều kiện làm thêm, số giờ được phép huy động làm thêm, lương làm thêm và các trường họp không được phép huy động làm thêm.

Khi tổ chức làm thêm cho người lao động thì người sử dụng lao động phải thoả thuận với người lao động và phải đảm bảo số thời giờ làm thêm quy định trong ngày, tuần, các quy định về thời giờ nghỉ ngơi, các quy định về cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ đối với một số đối tượng và đảm bảo chế độ trả lương làm thêm giờ cho người lao động. Người sử dụng lao động không được phép huy động làm thêm giờ đối với phụ nữ có thai từ tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động khuyết tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên. Đối với người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động chỉ được phép huy động làm thêm giờ trong một số ngành nghề, công việc do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.

  1. Thời giờ làm việc ban đêm

Thời giờ làm việc ban đêm là khoảng thời gian làm việc được ấn định tuỳ theo vùng khí hậu, yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến độ dài thời gian của đêm. Ở Việt Nam, do những ảnh hưởng nhất định của làm đêm đối với sức khoẻ của người lao động nên pháp luật Việt Nam quy định hạn chế làm đêm với một số đối tượng, nhất là với lao động nữ và người chưa thành niên; những đối tượng cấm hoặc hạn chế huy động làm thêm giờ cũng chính là những đối tượng cấm hoặc hạn chế làm đêm (các điều 137,144, 160 Bộ luật lao động năm 2019).

  1. Thời giờ làm việc linh hoạt

Thời giờ làm việc linh hoạt là khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Theo đó, thời giờ làm việc linh hoạt chính là việc quy định các hình thức tổ chức lao động mà trong đó có sự khác nhau về độ dài và thời điểm làm việc của người lao động so với thời gian làm việc thông thường đã được quy định theo ngày, tuần, tháng, năm làm việc. Ở Việt Nam, thời giờ làm việc linh hoạt được quy định đối với một số trường hợp tạo điều kiện vận dụng thời giờ làm việc linh hoạt như đối với những người lao động làm việc theo hợp đồng không trọn thời gian (Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019), nhận công việc về nhà làm (Điều 167 Bộ luật lao động năm 2019), khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt với lao động nữ (Điều 135 Bộ luật lao động năm 2019)…

error: Content is protected !!