Quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong quan hệ tư pháp quốc tế

Hỏi: Quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong quan hệ tư pháp quốc tế

Đáp: Khi tham gia vào các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt – không những không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân mà còn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
Cơ sở pháp lý quốc tế của quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia thể hiện ở việc xác định quốc gia là một thực thể có chủ quyền và là chủ thể đặc biệt trong tư pháp quốc tế, được thể hiện ở các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia.
Theo nguyên tắc này, Nhà nước này hoặc bất kì cơ quan nào của nhà nước này không có quyền xét xử nhà nước khác hoặc đại diện của Nhà nước khác.
Quyền miễn trừ tư pháp là chủ quyền tối cao của quốc gia trong lĩnh vực tư pháp khi tham gia các quan hệ pháp luật. Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia được thể hiện qua Điều 31 Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước của Liên hiệp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia bao gồm các nội dung: Quyền miễn trừ xét xử, miễn trừ đối với tài sản, miễn trừ trong việc thi hành án. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về quyền miễn trừ tư pháp: Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn đơn (trong lĩnh vực dân sự).
Theo quy định tại Điều 5 Công ước Liên hợp quốc năm 2004 quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng về chủ quyền và bình đẳng giữa các quốc gia bởi lẽ các quốc gia trên thế giới đều có quyền bình đẳng, do đó không quốc gia nào có quyền xét xử, đưa ra một phán quyết với một quốc gia khác. Mà tòa án của các quốc gia khi xét xử đều nhân danh quốc gia, vì vậy, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn.
Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: nếu quốc gia đồng ý cho toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp mà quốc gia là bên bị đơn thì toà án nước ngoài được xét xử, nhưng không được phép ap dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của toàn án.
Thứ hai, quyền miễn trừ đối với việc áp dụng các biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện.
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn.
Theo quy định tại Điều 18 Công ước Liên hợp quốc, trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử, nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Như đã nói, do các quốc gia bình đẳng với nhau về chủ quyền, mặt khác, tài sản của quốc gia cũng là bất khả xâm phạm.
Do đó, nếu quốc gia đồng ý tham gia vụ án với tư cách là bị đơn thì tòa án cũng không được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào được áp dụng với quốc gia.
Thứ ba, quyền miễn trừ về thi hành án.
Theo quy định tại Điều 19 của Công ước Liên hợp quốc, việc miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài khởi kiện cũng như đồng ý cho Tòa án xét xử vụ kiện đó. Khi mà quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của Tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành.
Nếu như quốc gia không tự nguyện thi hành bản án và không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Kể cả khi mà quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét sử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của toàn án vẫn phải được tôn trọng.
Công ước sẽ là một căn cứ pháp lý quan trọng mà các quốc gia thành viên có thể viện dẫn để giải quyết các tranh chấp liên quan đến miễn trừ tài phán của quốc gia và tài sản quốc gia.
Quyền miễn trừ quốc gia không chỉ dành cho bản thân quốc gia và các cơ quan của chính phủ, các bang của một nhà nước liên bang mà còn mở rộng tới các đơn vị hành chính của quốc gia và cơ quan hoặc công ty của quốc gia là đối tượng được hưởng quyền miễn trừ.
Tuy nhiên, cần lưu ý không phải trong mọi trường hợp quyền miễn trừ của quốc gia đều được thực hiện. Công ước có quy định rõ quốc gia vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình trong trường hợp quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ hoặc khi tham gia vào các giao dịch, các vụ kiện liên quan đến bồi thường, hợp đồng lao động,…và những quan hệ khác trong đó các bên đã thỏa thuận loại trừ quyền.

error: Content is protected !!