Phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế thông quan bên thứ ba?

Hỏi: Phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế thông quan bên thứ ba?

Đáp: 1. Trung gian
– Giải pháp trung gian được quy định trong các Công ước Lahaye 1899 và 1907 như là một trong các biện pháp hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Nhiệm vụ của bên trung gian là khuyến khích, đông viên các quốc gia có liên quan đến tranh chấp giải quyết vụ tranh chấp bằng biện pháp hoà bình nào đó, cụ thể là việc tác động để các bên tiếp xúc ngoại giao vằ tiến hành các cuộc đàm phán chính thức. Bên trung gian không tham gia vào đàm phán và không đưa ra các điều kiện giải quyết tranh chấp. Giải quyết tranh chấp thông qua trung gian thực chất là các bên chấp nhận sự tham gia của bên thứ ba. Bên thứ ba có thể là một hoặc một số quốc gia; một hoặc một số cá nhân có uy tín và cũng có thể là thông qua cơ quan của tổ chức quốc tế.
– Việc đề nghị trung gian dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng không có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp và họ có thể từ chối sử dụng biện pháp trung gian qua bên thứ ba. Sự lựa chọn cơ quan đóng vai trò trung gian có ý nghĩa rất quan trọng. Trên nguyên tắc, cơ quan trung gian phải tôn trọng ý chí tự quyết của các bên tranh chấp. Các đê nghị, khuyến cáo của cơ quan trung gian liên quan đến vụ tranh chấp chỉ có thể là cơ sở cho các cuộc đàm phán và thoả thuận giữa các bên tranh chấp mà không thể có giá trị pháp lý ràng buộc. Nhưng trong thực tế, cơ quan trung gian, nhất là khi các cường quốc giữ vai trò này, không chỉ tạo cơ hội cho các bên tranh chấp tiếp xúc gặp gỡ, khuyến nghị một số vấn đề mà còn dùng ảnh hưởng của mình gây tác động mạnh mẽ đối vớỉ các bên nhằm mục đích để họ chấp nhận giải pháp nào đó. Song cũng không loại trừ sự trung gian trong một số trường hợp rất dễ biến thành sự can thiệp.
– Giải quyết tranh chấp qua trung gian thường kết thúc khi các bên tranh chấp ký được điều ước quốc tế vê giải quyết tranh chấp. Bên đóng vai trò trung gian cũng có thể tham gia ký kết điều ước loại này.
2. Hoà giải
– Biện pháp hoà giải cũng được tiến hành bởi sự tham gia của bên thứ ba. Tuy nhiên, trong thực tế, khác với bên trung gian, vai trò của bên hoà giải thể hiện qua việc tham gia tích cực trong các cuộc đàm phán giữa các bên tranh chấp. Hơn nữa, người hoà giải có thể đưa ra các kiến nghị cùng cách giải quyết của mình và soạn các dự thảo để các bên thảo luận.
– Với tư cách tham gia tích cực vào đàm phán giữa các bên tranh chấp, bên hoà giải có phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ rộng lớn hơn, thể hiện ở việc tham gia vào đàm phán từ đầu cho đến khi kết thúc, thậm chí có thể điều khiển cả cuộc đàm phán, đưa ra kiến nghị hoặc đưa ra đề nghị thay đổi yêu sách của các bên tranh chấp nhằm làm cho các bên tranh chấp xích lại gần nhau hơn. Nhiệm vụ của bên hoà giải là dung hoà các yêu sách của các bên franh chấp và hoà giải giữa các bên nhưng kiến nghị cùa họ không có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Hoạt động hoà giải được tiến hành theo đề nghị của các bên tranh chấp hoặc theo sáng kiến của bên thứ ba. Bên thứ ba có thể là một hoặc một số quốc gia, cá nhân hoặc tổ chức quốc tế, không tham gia vào vụ tranh chấp. Nhiều điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương cũng quy định hoà giải là một trong các biên pháp mà các thành viên kết ước có thể sử dụng khi có tranh chấp nảy sinh trong quá trình giải thích hoặc thực hiện điều ước quốc tế đó, như cách quy định của Công ước Viên năm 1969 về Luật điêu ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia, Công ước Luật biển năm 1982… Hoà giải được coi là kết thúc trong các trường hợp sau:
– Vụ tranh chấp đã kết thúc;
– Các bên tranh chấp chấp nhận các kết luận, khuyến nghị… của bên hoà giải;
– Các bên hoặc một bên tranh chấp bác bỏ các kết luận hoặc khuyến nghị đó.
3. Thông qua uỷ ban điều tra
– Điều tra thực chất không giải quyết được tranh chấp mà chỉ giúp cho việc hiểu một cách rõ ràng, khách quan về các sự kiên đã làm nảy sinh tranh chấp. Điều tra sẽ tạo điều kiện cho các bên tranh chấp xác nhận lại một sự kiên hoặc một hành động dẫn đến sự bất đồng, từ đó có thể dẫn đến việc thương 1- ượng nhằm chẩm dứt tranh chấp.
– Cơ sở pháp lý cùa biện pháp điều fra được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế, như Công ước Lahaye 1907 về giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, Hiến chương Bogota năm 1948, các Công ước Giơnevơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh năm 1949. Cơ quan điều tra là một ủy ban gồm một số thành viên nhất định, trong đố thường có cả công dân các bên tranh chấp nhưng họ không đại diện cho quốc gia mình. Chính điều này làm cho cơ quan điều tra giống vóỉ ủy ban hoà giải và cơ quan trọng tài.
– Ủy ban điều tra có 2 loại, ủy ban đặc biệt (Ad hoc) và uỷ ban thường trực. Nhiệm vụ chủ yếu của uỷ ban điều tra không phải là trực tiếp giải quyết vụ tranh chấp. Báo cáo của uỷ ban điều tra chỉ xác nhận một cách khách quan những tình hình, sự kiên đã xảy ra chứ không có tính chất như quyết định của trọng tài hay phán quyết của toà án. Các bên ttanh chấp có toàn quyền trong việc chấp nhân hay bác bỏ báo cáo của uỷ ban điều tra.
Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động cùa uỷ ban điều tra nhiều khi vượt quá nhiêm vụ của họ. Cụ thể, uỷ ban điều tra không chỉ “nhân xét” các sự kiên mà còn đề cập cả đến nguyên nhân, hâu quả của tranh chấp, bình luận về yêu sách đòi hỏi của các bên…
4. Uỷ ban hoà giải
– Các quy định chi tiết về trình tự thành lập và hoạt động của uỷ ban hoà giải được ghi nhận trong trong nhiều vãn bản pháp lý quốc tế quan trọng, như văn kiện chung về giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế năm 1928 có ghi nhận việc thành lập uỷ ban hoà giải thường trực hoặc uỷ ban hoà giải đặc biệt. Trong thời hạn 6 tháng, sau khi có đề nghị của một bên tranh chấp, sẽ thành lập ụỷ ban hoà giải thường trực hoặc uỷ ban hoà giải đặc biệt gồm 5 thành viên, mỗi bên tranh chấp chĩ định một thành viên (có thể là công dân của nước mình), 3 thành viên còn lại được lựa chọn dựa trên sự thoả thuận chung của các bên. Các bên sẽ thoả thuận chỉ định chủ tịch uỷ ban trong số 5 thành viên. Vụ tranh chấp được đưa ra uỷ ban bằng tuyên bố của các bên tranh chấp hoặc bằng tuyên bố của một bên. Nói cách khác, văn kiện này quy định thủ tục hoà giải bắt buộc và thẩm quyền hoà giải bắt buộc. Vì vây nó chỉ được một số quốc gia phê chuẩn nên vẫn chưa có hiệu lực.
– Thông thường, thành phần của cơ quan hoà giải gồm một số lẻ các thành viên, được lựa chọn với tư cách cá nhân, trong đó thường có thành viên là công dân của các bên tranh chấp và thành viên là công dân của một nước thứ ba, do cả hai bên tranh chấp cùng thoả thuận lựa chọn. Những người được chọn thường là các nhà ngoại giao, những luật gia có kinh nghiêm trên chính trường quốc tế. Đối với những điều ước quốc tế quy định hoà giải như một phương thức thường trực thì thường có sẵn một danh sách các nhà hoà giải để các bên lựa chọn.
– Uỷ quan hoà giải tự quy định thủ tục làm việc. Các kết luân hoặc khuyến nghị của uỷ quan hoà giải được thông qua với đa số phiếu. Trong quá trình làm việc, uỷ quan hoà giải thu thập các tin tức, tài liệu cần thiết nhằm làm sáng tỏ vụ tranh chấp, trình bày những giải pháp mà cơ quan này cho là hợp lý, lấy ý kiến các bên, xem xét các yêu cầu và phản đối… Báo cáo do uỷ ban hoà giải soạn thảo không có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp mà chỉ là những khuyến cáo, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp.

error: Content is protected !!