Phân tích nội dung ý nghĩa, ngoại lệ của các nguyên tắc trong ngân sách nhà nước?
Hỏi: Phân tích nội dung ý nghĩa, ngoại lệ của các nguyên tắc trong ngân sách nhà nước?
Đáp:
- Nguyên tắc ngân sách nhất niên (Điều 14)
Nguyên tắc ngân sách nhất niên gồm hai khía cạnh cơ bản sau đây:
(i) Mỗi năm Quốc hội (cơ quan nắm quyền lập pháp) sẽ biểu qụyết ngân sách một lần theo kỳ hạn do luật định;
(ii) Bản dự toán NSNN sau khi Quốc hội quyết định chỉ có giá trị hiệu lực thi hành trong một năm và chính phủ (cơ quan nắm quyền hành pháp) cũng chỉ được phép thi hành trong năm đó
Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khách quan khiến nguyên tắc này có một số ngoại lệ: Điều 64. Xử lý thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm
- Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách nhà nước kết thúc vào ngày 31 tháng 01 năm sau.
- Các khoản dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách theo quy định tại khoản 2 Điều này chưa thực hiện được hoặc chưa chi hết phải hủy bỏ, trừ một số khoản chi được chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện và hạch toán quyết toán vào ngân sách năm sau:
- a) Chi đầu tư phát triển thực hiện chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật đầu tư công;
- b) Chi mua sắm trang thiết bị đã đầy đủ hồ sơ, hợp đồng mua sắm trang thiết bị ký trước ngày 31 tháng 12 năm thực hiện dự toán;
- c) Nguồn thực hiện chính sách tiền lương;
- d) Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà nước;
đ) Các khoản dự toán được cấp có thẩm quyền bổ sung sau ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán;
- e) Kinh phí nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa của nguyên tắc
Thứ nhất, nguyên tắc nhất niên đề cao vai trò làm chủ của Quốc hội – cơ quan đại diện của nhân dân và là quyền lực nhà nước cao nhất. Việc biểu quyết và thông qua ngân sách mỗi năm của Quốc hội vừa thể hiện tính công khai minh bạch trong thực hiện NSNN vừa tạo cơ hội để nhìn lại một năm thực hiện và đánh giá tính hiệu quả của ngân sách. Từ đó, Nhà nước tổng kết và rút kinh nghiệm để xây dựng bản dự toán ngân sách cho các năm tiếp theo hiệu quả, phù hợp với thực tế.
Thứ hai, nguyên tắc này cho thấy sự giới hạn về thời gian thực hiện ngân sách. Chính sự giới hạn này đòi hỏi trong một năm đó phải cân đối giữa thu và chi như thế nào cho hợp lý, như vậy không có sự mất cân bằng giữa thu và chi. Thêm vào đó, vì Chính phủ chỉ được thực hiện trong một năm nên việc gắn trách nhiệm và quyền hạn của Chính phủ tronquy tg thực hiện ngân sách nhà nước là rất cao- chỉ với ngân sách đó Chính phủ phải phân bổ, điều tiết cho cả nươc như thế nào cho hợp lý, tránh trường hợp ngân sách các cấp lợi dụng, trông chờ vào ngân sách trung ương .
Thứ ba, nguyên tắc này còn tránh được trường hợp tham ô, lợi dụng ngân sách vì mỗi năm sẽ có tổng kết và biểu quyết ngân sách mới nên việc thu và chi sẽ cụ thể chi tiết và rõ ràng.
- Nguyên tắc đơn nhất
Nội dung cơ bản
Nguyên tắc ngân sách đơn nhất theo cách hiểu thông thường đó là mọi khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia trong một năm chỉ được phép trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó là bản dự toán NSNN sẽ được chính phủ trình Quốc hội quyết định để thực hiện.
Ngoại lệ: Điều 19, 30
Điều 46. Thảo luận và quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách hằng năm: 4. Thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương:
- d) Quốc hội thảo luận, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm sau. Trong quá trình thảo luận, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, trường hợp quyết định điều chỉnh thu, chi ngân sách, Quốc hội quyết định các giải pháp để bảo đảm cân đối ngân sách.
52.4.Chính phủ yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh dự toán ngân sách nếu việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp với nghị quyết của Quốc hội.
Ý nghĩa
Thứ nhất, khi mọi khoản thu và chi được trình bày trong một văn kiện duy nhất – bản dự toán NSNN không những tạo những thuận lợi cho việc thiết lập một ngân sách thăng bằng và hiệu quả mà còn khiến cho Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất dễ dàng kiểm soát, lựa chọn được những khoản thu, chi nào là cần thiết hay quan trọng để phê chuẩn cho phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế – xã hội.
Thứ hai, mọi khoản thu, chi của một quốc gia tập trung trong một tài liệu duy nhất, chứ không tản mạn các kết quả ấy ở nhiều tài liệu thì người ta sẽ dễ dàng theo dõi kết quả thực sự của các nghiệp vụ tài chính.
- Nguyên tắc ngân sách toàn diện
Nguyên tắc ngân sách toàn diện được diễn tả bằng hai nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mọi khoản thu và mọi khoản chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong văn bản dự toán NSNN hàng năm đã được Quốc hội quyết định; không được phép để ngoài dự toán ngân sách bất kì khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất.
Thứ hai, các khoản thu và các khoản chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từng khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục NSNN được duyệt; không được phép dùng riêng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể nào mà mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi. Tất nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này cần tính đến việc phải tuân thủ nguyên tắc: “Các khoản đi vay để bù đắp bội chi NSNN không được sử dụng để chi tiêu dùng mà chỉ được sử dụng để chi cho đầu tư phát triển”.
Về nguyên tắc là như vậy, nhưng trong quá trình thực hiện nguyên tắc này trên thực tiễn đã phát sinh những ngoại lệ nhất định. Cụ thể tại Điều 5 Nghị định số 30/2012/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, theo đó quỹ xã hội, quỹ từ thiện sẽ được Nhà nước cấp kinh phí đối với hoạt động gắn với nhiệm vụ Nhà nước giao.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu tại Nghị ĐỊnh 16/2015/NĐ-CP
Ý nghĩa của nguyên tắc ngân sách toàn diện.
Từ nguồn gốc hình thành, cơ sở và nội dung đã đề cập trên đây, có thể nói nguyên tắc ngân sách toàn diện có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tổ chức và thực hiện NSNN bởi lẽ một mặt nó thể hiện tính minh bạch rất cao và mặt khác nó còn góp phần mở rộng thêm chức năng xã hội của nhà nước.
Trước hết, nguyên tắc này được ghi nhận trong luật, tức là Nhà nước đã thấy được tầm quan trọng của nó trong việc làm ổn định kinh tế vĩ mô. Có thể nói, việc thực hiện nguyên tắc toàn diện rất tốt cho việc quản trị tài chính công, bởi lẽ nó không cho phép bất cứ khoản thu, chi nào được để ngoài ngân sách nhà nước.. Với hai nội dung cơ bản của nguyên tắc ngân sách toàn diện, việc thực hiện sẽ đảm bảo cho bản dự toán ngân sách nhà nước được thiết lập một cách rõ ràng.
Mặt khác, khi nội dung của nguyên tắc ngân sách ngân sách toàn diện được luật hóa cụ thể trong LNSNN năm 2015 đã tăng tính cụ thể, minh bạch, đầy đủ và dễ kiểm soát, tránh gian lận hay biển thủ công quỹ trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Việc thừa nhận nguyên tắc ngân sách toàn diện trong luật và áp dụng nó vào thực tiễn cuộc sống còn bởi chúng ta nhận thấy được rằng nó có ý nghĩa trong việc phân bổ, sử dụng và điều chỉnh nguồn lực tài chính có hiệu quả. Đồng thời việc thực hiện nguyên tắc toàn diện góp phần lành mạnh hóa hoạt động ngân sách nhà nước hàng năm.
* Nguyên tắc ngân sách thăng bằng
Nội dung cơ bản của nguyên tắc
Tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển, trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.
Nguyên tắc này có ngoại lệ là trường hợp cho phép vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.: k4 Điều 7
Điều 8
- Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
- Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật.
- Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, dự toán chi ngân sách làm phát sinh nợ khối lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên.
Ý nghĩa
Thứ nhất, nguyên tắc này được ghị nhận trong cụ thể tại Điều 7 trong LNSNN năm 2015 cho thấy Nhà nước biết được tầm quan trọng của nó trong việc làm ổn định kinh tế vĩ mô. Tác dụng của nguyên tắc này khi góp phần ổn định việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô
Thứ hai, việc thừa nhận nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc phân bổ, sử dụng và điều chỉnh nguồn lực tài chính có hiệu quả. nhờ ý nghĩa định hướng đó của nguyên tắc này mà nhà nước chủ động thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đề ra.
Thứ ba, nguyên tắc này còn góp phần vào việc tạo được nguồn dự trữ ngân sách nhà nước, từ đó không phải hoãn lại những kế hoạch để chờ nguồn thu cụ thể mà sẽ thực hiện ngay do nguồn dự trữ tài chính sẵn có, điều này làm cho những công việc được hoàn thành nhanh chóng và hiệu quả góp phần làm cho kinh tế – xã hội được ổn định lâu dài.
- Nguyên tắc công khai minh bạch
Ngoại lệ: bí mật quốc gia
