Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” (Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013)?
Hỏi: Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” (Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013)?
Đáp:
* Khái niệm Tòa án: Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án.
* Khái quát chung: Trong tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Tòa án nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan hợp thành, là trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở Việt Nam. TAND thực hiện chức năng xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, vì vậy tổ chức và hoạt động của TAND vừa phải thực hiện các nguyên tắc chung trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vừa phải thực hiện các nguyên tắc riêng do pháp luật quy định. Một trong những nguyên tắc riêng của TAND đó là nguyên tắc việc xét xử của Tòa án do Thẩm phán và Hội thẩm thực hiện.
* Cơ sở hiến định: Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013. Hiến pháp 2013 quy định ngắn gọn hơn, bổ sung cụm từ “việc xét xử sơ thẩm” đảm bảo tính chính xác hơn so với quy định của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) vì không phải ở cấp xét xử nào cũng có Hội thẩm tham gia. Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 bổ sung đoạn “trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” để phủ hợp với thực tiễn có những vụ án đơn giản có thể áp dụng thủ tục xét xử rút gọn, không cần có Hội thẩm tham gia.
* Nội dung nguyên tắc:
Thứ nhất, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh nhà nước trực tiếp xét xử tại phiên tòa và ra bản án, quyết định đối với các vụ án. Một trong những đặc trưng của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, với tư tưởng lấy nhân dân làm gốc, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Hội thẩm nhân dân là công dân gương mẫu chấp hành pháp luật, là người có uy tín trong nhân dân, do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tham gia xét xử tại các phiên tòa. Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân qốc phòng đang phục vụ trong quân đội có thể được cử làm Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự cấp khu vực. Hội thẩm nhân dân có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động nên họ hiểu sâu sắc hơn tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm nhân dân không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa phương, Hội thẩm nhân dân sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ.
Thứ hai, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Khi xét xử vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Pháp luật không chỉ quy định khi xét xử Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia mà còn quy định khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, tức là Hội thẩm nhân dân cùng Thẩm phán quyết định giải quyết mọi vấn đề của vụ án không kể về nội dung hay thủ tục tố tụng. Mặc dù Hội thẩm không phải là cán bộ trong biên chế Tòa án mà là người của cơ quan, tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bầu hoặc cử làm đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, nhưng khi tham gia xét xử Hội thẩm lại ngang quyền với Thẩm phán, từ việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết vụ án. Đây là điều quan trọng để Hội thẩm nhân dân thực sự phát huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân của mình.
* Ý nghĩa nguyên tắc:
Việc xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân tham gia là hoàn toàn phù hợp với tính chất của từng vụ án, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo sự tham gia của người dân vào việc xét xử Tòa án, tăng tính công khai, minh bạch.
Bên cạnh đó, sự tham gia của Thẩm phám và Hội thẩm trong hoạt động xét xử nhằm bảo đảm cho các quyết định của Tòa án không những đúng pháp luật mà còn phản ánh được quan điểm về công lý của nhân dân, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; bảo đảm các phán quyết của Tòa án phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội, truyền thống đạo đức, phong tục tập quán ở địa phương; góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong cộng đồng dân cư. Đây chính là hình thức nhân dân giám sát có hiệu quả và tham gia trực tiếp vào việc thực hiện quyền lực nhà nước.
