Phân tích hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Đánh giá hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn Việt Nam hiện nay?
Hỏi: Phân tích hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Đánh giá hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn Việt Nam hiện nay?
Đáp:
* Phân tích hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành
– Khái niệm chất vấn: Khoản 7 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
– Khái niệm Đại biểu Quốc hội: Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội
– Bản chất: Chất vấn là một thủ tục (hình thức) được Quốc hội áp dụng để giám sát hoạt động của các cơ quan và các quan chức Nhà nước được giao quyền (các hình thức giám sát khác là nghe báo cáo, nghe điều trần, tổ chức, điều tra, tổ chức đi nghiên cứu, xem xét tình hình…. Trong số này có một vài hình thức chưa được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của Quốc hội nước ta). Đây là một hoạt động bình thường mà cơ quan lập pháp của các nước trên thế giới đều tiến hành.
– Đối tượng chất vấn: Khoản 1 Điều 32, Điều 80 Hiến pháp 2013 Luật Tổ chức Quốc hội.
+ Chủ thể hỏi: Đại biểu QH (quyền của ĐBQH).
+ Chủ thể trả lời chất vấn: Chủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội, thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, CA TAND TC, VT VKS NDTC, Tổng kiểm toán nhà nước.
– Mục đích: Hoạt động chất vấn không nhằm thu thập thông tin hay số liệu mà nhằm quy kết trách nhiệm và làm sáng tỏ trách nhiệm của đối tượng bị chất vấn. Đại biểu Quốc hội có thể đưa ra chất vấn nhiều lần về một vấn đề cho đến khi nó được giải quyết mới chấm dứt. Bên cạnh đó, hoạt động chất vấn còn nhằm mục đích kiểm tra năng lực của các nhà chức trách trong việc nắm bắt và điều chỉnh lĩnh vực mà họ được giao trách nhiệm quản lí.
– Tính chất: Ràng buộc về quyền và nghĩa vụ. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu giải trình và đối tượng bị chất vấn có nghĩa vụ phải giải trình.
– Thời gian chất vấn: Khoản 2, Khoản 3 Điều 32 Luật Tổ chức Quốc hội.
– Hình thức chất vấn: Chất vấn được thực hiện tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp, người bị chất vấn trả lời trực tiếp tại kỳ họp hoặc trả lời bằng văn bản theo quy định của Luật.
– Trình tự, cách thức: Điều 15, Điều 26 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
– Hậu quả pháp lí: Quốc hội có thể ra một Nghị quyết bày tỏ thái độ về việc trả lời chất vấn. Đối tượng bị chất vấn có thể bị áp dụng các chế tài: bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc bị đưa ra bỏ phiếu tính nhiệm.
* Đánh giá hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn Việt Nam hiện nay
Hoạt động chất vấn được coi là hình thức giám sát trực tiếp có hiệu quả nhất của Quốc hội. Thực tiễn hoạt động chất vấn của Quốc hội tại các kỳ họp Quốc hội thời gian qua đã ngày một chứng minh rõ hơn cho nhận định này.
Sau nhiều nỗ lực trong việc cải tiến cách thức tổ chức hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, hoạt động này đã có nhiều tiến bộ. Cụ thể là: chất lượng câu hỏi, chất lượng câu trả lời chất vấn dần được nâng cao theo hướng ngắn gọn mà rõ ràng, hạn chế vòng vo, trúng trọng tâm vấn đề cần hỏi và trả lời; ý thức trách nhiệm của cả người chất vấn và người được chất vấn dần được đề cao; cử tri và nhân dân cả nước ngày một quan tâm và theo dõi sát sao hơn hoạt động chất vấn của Quốc hội, thực tế dường như hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội diễn ra càng nhiều thì khoảng cách giữa cử tri, nhân dân cả nước với Quốc hội càng ít. Sự quan tâm đó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện chức năng quản lý, điều hành các công việc của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành ngày càng tốt hơn. Chất lượng của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn từng bước được nâng cao, góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác, trách nhiệm của các cơ quan chính quyền, của toàn hệ thống chính trị và trở thành một sinh hoạt không thể thiếu trong hoạt động của Quốc hội.
Tuy nhiên, hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội còn có những vấn đề bất cập như câu hỏi tập trung vào những vấn đề mang tính địa phương, thiếu tầm khái quát, chất vấn không đúng chủ thể nên người bị chất vấn lúng túng dẫn đến kém hiệu quả trong công tác chất vấn. Về cách trình bày nội dung chất vấn thì diễn giải dài dòng, không đi vào trọng tâm, trùng lặp giữa các câu hỏi. Người trả lời chất vấn trả lời còn dài, chưa đi thằng vào vấn đề, nói chưa sát những vấn đề mà Đại biểu muốn tìm hiểu.
Để tiếp tục củng cố về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, thúc đẩy nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội và tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội thì Quốc hội cần tiếp tục quan tâm một số vấn đề sau đây:
– Thứ nhất là, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của UBTVQH, quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội hiện hành cho phù hợp với những cải tiến về quy trình, quy mô chất vấn, trả lời chất vấn trong thời gian vừa qua, có lường trước một số vấn đề sẽ nảy sinh từ hoạt động này để có những quy định đón đầu.
– Thứ hai là, tiếp tục nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ thực tế quá trình đổi mới hoạt động chất vấn thời gian qua để có những cải tiến đột phá hơn trong tổ chức hoạt động này. Tăng cường giao và tạo điều kiện để thường xuyên tổ chức hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn tại các phiên họp UBTVQH, phiên họp của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
