Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
Hỏi: Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
Đáp:
* Định nghĩa: Có rất nhiều định nghĩa về hiến pháp (constitution), tuy nhiên, hiểu một cách khái quát thì hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người và công dân.
Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với Hiến pháp. Vị trí tối cao của hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc chủ quyền nhân dân và về nguyên tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý dân). Điều này khác với các đạo luật bình chỉ do Quốc hội gồm những người đại diện do dân bầu và ủy quyền xây dựng.
Vai trò của hiến pháp: Hiến pháp là văn kiện chính trị – pháp lý quan trọng của mỗi quốc gia, là “bản khế ước xã hội” và là bản “hùng văn của dân tộc”.
* Đặc điểm
Hiến pháp có bốn đặc điểm cơ bản sau:
– Thứ nhất, hiến pháp là luật cơ bản, là “luật mẹ’’ vì vậy nó là nền tảng, cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia.
+ Phạm vi của hiến pháp là những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của một nhà nước, xã hội.
+ Hiến pháp có hiệu lực pháp lí cao nhất được ghi nhận trong một điều khoản của hiến pháp, các văn bản pháp luật của nhà nước không được trái với hiến pháp
+ Hiến pháp mang tính ổn định và bền vững: có hiệu lực trong một thời gian tương đối dài, trong phạm vi toàn lãnh thổ. Ví dụ: Từ khi lập quốc Mĩ chỉ có một bản hiến pháp là Hiến pháp năm 1787, Nhật Bản là Hiến pháp 1946 chưa được sửa đổi.
+ Thủ tục xây dựng và thông qua hiến pháp (quy trình lập hiến) rất chặt chẽ: Việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp phải được thể hiện dưới hình thức một quy định của Quốc hội. Dự thảo hiến pháp phải được đưa ra lấy ý kiến nhân dân hoặc trưng cầu ý dân. Quốc hội thông qua hiến pháp với tỉ lệ cao thông thường phải cần quá bán. Ví dụ, như Hiến pháp Hoa kỳ thì việc sửa đổi hiến pháp này phải có sự đồng ý của nghị viện của ¾ tiểu bang hoặc phải thông qua một Hội nghị lập hiến hay như ở Việt Nam thì làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất 2/3 số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (Điều 120 – Hiến pháp 2013). Nguyên thủ quốc gia phải công bố hiến pháp đúng thời hạn pháp luật quy định.
+ Hiến pháp vừa mang tính hiện thực vừa mang tính cương lĩnh. Hiến pháp phản ánh hiện thực khách quan, là bản tổng kết thành quả cách mạng; thể hiện rõ phương hướng, định hướng phát triển của đất nước.
– Thứ hai, hiến pháp là luật tổ chức, là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; cách thức tổ chức chính quyền địa phương và quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ. Hiến pháp của bất kì một quốc gia nào cũng đóng vai trò như một đạo luật gốc, cơ bản và khái quát nhất về tổ chức quyền lực nhà nước. Chúng đều có những chế định xác lập cơ cấu, các quy tắc tổ chức, vận hành và mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản của nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp (Quốc hội/ Nghị viện), cơ quan hành pháp (Chính phủ) và cơ quan tư pháp (Tòa án). Dựa trên các chế định này của hiến pháp, các đạo luật về tổ chức nhà nước sẽ được xây dựng để chi tiết hóa những vấn đề còn chưa cụ thể. Các đạo luật này chỉ có thể cụ thể hóa mà không được có những quy định trái với hiến pháp. Các đạo luật khác về tổ chức và thực hiện một số quyền lực nhà nước nhất định: Luật Tổ chức Quốc hội quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Luật Tổ chức Tòa án chỉ quy định về các cơ quan xét xử chuyên thực hiện quyền tư pháp… các cơ quan nhà nước được quy định cho các quyền và thực hiện các quyền này trên thực tế là bắt nguồn từ các quy định của hiến pháp.
– Thứ ba, hiến pháp là luật bảo vệ các quyền con người và công dân. Các quyền con người và công dân bao giờ cũng là một phần quan trọng trong hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền con người và công dân. Thông qua hiến pháp, người dân xác định những quyền gì của mình mà nhà nước phải tôn trọng và đảm bảo thực hiện, cùng những cách thức để bảo đảm thực thi những quyền đó. Với tính chất là văn bản có hiệu lực pháp lí tối cao, hiến pháp là bức tường chắn quan trọng nhất để ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, cũng như là quyền tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình bị vi phạm. Hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền công dân của hiến pháp còn được phát huy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ thể như thông qua hệ thống Tòa án tư pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội hay tòa án hiến pháp.
Thứ tư, hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lí tối cao, tất cả các văn bản pháp luật khác không được trái với hiến pháp. Bất kì văn bản nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ. Hiến pháp có hiệu lực pháp lí cao nhất được ghi nhận trong một điều khoản của hiến pháp, các văn bản pháp luật của nhà nước không được trái với hiến pháp, khi có mâu thuẫn phải thực hiện theo hiến pháp, các văn bản chính trị, điều ước quốc tế mà nhà nước kí kết không được trái với hiến pháp. Hiến pháp có hiệu lực trong toàn quốc và tất cả các đối tượng mà hiến pháp điều chỉnh. Để đảm bảo tính hiệu lực pháp lí tối cao của hiến pháp, có một cơ chế được thiết lập để bảo vệ hiến pháp là bảo hiến. Ví dụ: Một số nước thành lập Tòa án Hiến pháp (CHLB Đức, LBN, Ý,…), hoặc Hội đồng Bảo hiến (Pháp), hay giao cho tòa án tối cao (Hoa Kì, Nhật Bản,..) để tiến hành sự giám sát hiến pháp.
