Khái niệm, đối tượng điều chỉnh của luật đất đai. Phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật đất đai.

Hỏi: Khái niệm, đối tượng điều chỉnh của luật đất đai. Phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật đất đai.

Đáp:

  1. Khái niệm: Luật đất đai là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa người sử dụng đất với nhau.
  2. Đối tượng điều chỉnh:

– Đối tượng điều chỉnh nói chung là nhóm quan hệ xã hội mà ngành luật ấy hướng tới. Đối tượng điều chỉnh của Luật đất đai gồm hai nhóm quan hệ xã hội:

+ Mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất: Khi nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu tối cao của mình, thực hiện việc trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất bằng các quyết định hành chính đối với hành vi hành chính đó.

+ Mối quan hệ giữa người sử dụng đất với nhau: Khi Nhà nước trao quyền cho người sử dụng đất và người sử dụng đất sử dụng quyền của mình mà nhà nước trao cho.

– Các quan hệ đất đai phát sinh trong quá trình, sở hữu quản lí Nhà nước đối với đất đai: Là người đại diện chủ sở hữu đồng thời là người thống nhất quản lý đất đai theo quy định của pháp luật. Nhà nước xây dựng bộ máy các cơ quan có thẩm quyền hành chính và chuyên ngành nhằm thực thi các nội dung cụ thể của quản lí Nhà nước về đất đai.

– Các quan hệ xã hội phát sinh đối với các chủ thể sử dụng đất và các loại đất được phép sử dụng.

– Các quan hệ đất đai phát sinh trong quá trình sử dụng đất của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất: Các tổ chức được Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng trong quá trình khai thác, sử dụng phải trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, căn cứ vào dự án đầu tư và trình tự, thủ tục về giao đất, cho thuê đất.

– Các quan hệ đất đai phát sinh trong quá trình sử dụng đất của tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam: Nhà nước quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục cho thuê đất, các nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, đồng thời bảo hộ các quyền lợi cần thiết cho họ, đặc biệt khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

– Các quan hệ đất đai phát sinh trong quá trình sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai: Pháp luật đất đai xây dựng hành lang pháp lý cho việc mở rộng tối đa các quyền năng của hộ gia đình, cá nhân, đồng thời cho phép họ được thực hiện đầy đủ các giao dịch dân sự về đất đai theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ phù hợp với nhu cầu chuyển dịch và tích tụ đất đai trong nền kinh tế hàng hóa có điều tiết từ phía Nhà nước.

– Các quan hệ đất đai phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các nhóm đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng: Khi cho phép tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất, Nhà nước phân loại, quy định cụ thể từng chế độ pháp lý để thực hiện các biện pháp quản lí, công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sử dụng nhằm đảm bảo một cách thống nhất hài hòa lợi ích của NN và từng chủ sử dụng cụ thế.

  1. Những nguyên tắc cơ bản:

* Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu

Cơ sở: Điều 4 Luật Đất đai 2013.

Có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và chủ sử dụng trong quan hệ đất đai – chính là Nhà nước (đại diện chủ sở hữu đất đai) và người sử dụng vốn đất của Nhà nước. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất nên Nhà nước có quyền xác lập hình thức pháp lí cụ thể đối với người sử dụng đất. Đất đai được coi là một loại hàng hóa đặc biệt được lưu chuyển đặc biệt trong khuôn khổ các quy định của pháp luật.

Tính đặc biệt của sở hữu Nhà nước đối với đất đai thể hiện ở những điểm sau:

+ Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, nó không phải là hàng hóa thông thường mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống.

+ Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu.

+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do đó sẽ không có khái niệm “Đất vô chủ”, không còn tranh chấp về quyền sở hữu đối với đất đai và khái niệm “cấp đất” được chuyển thành khái niệm “giao đất”.

Nội dung nguyên tắc:

+ Đất đai trên phạm vi toàn quốc thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí.

+ Là chủ sở hữu đại diện, nhà nước có đầy đủ 3 quyền năng cơ bản của chủ sở hữu tài sản: Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.

+ Quyền của đại diện chủ sở hữu đất đai được thể hiện qua các hoạt động từ Điều 13 – 21.

* Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật

Cơ sở: Điều 4.

Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, là người xây dựng chiến lược phát triển, quy hoạch sử dụng đất và phê duyệt các chương trình quốc gia về sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên. Do nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng mà đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn, vì vậy, việc quy hoạch sử dụng đất là điều cần thiết để Nhà nước có thể điều tiết phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Sự thống nhất của Nhà nước đối với đất đai được thể hiện ở 4 mặt sau:

+ Đất đai được xem là một chính thể của đối tượng quản lý.

+ Sự thống nhất về nội dung quản lý đất đai, coi đất là một tài sản đặc biệt, điều này quyết định những việc làm cụ thể của Nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình.

+ Sự thống nhất về cơ chế quản lý, nhất là thống nhất trong việc phân công, phân cấp thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước, từng vùng và trong những tình huống quản lý cụ thể, thống nhất này đảm bảo cho việc quản lý Nhà nước về đất đai được nhất quán và không trùng sót.

+ Thống nhất về cơ quan quản lý đất đai.

Nội dung:

+ Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lí theo pháp luật.

+ Với vai trò đại diện chủ sở hữu, thực hiện thống nhất quản lí đất đai, nhà nước ban hành quy phạm pháp luật và trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, thu hồi đất.

* Nguyên tắc sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm

Cơ sở pháp lý: Điều 6.

Hiện nay chúng ta vẫn còn rất lãng phí trong việc khai thác, sử dụng tiềm năng đất đai. Để sử dụng đất đai một cách hợp lí, tiết kiệm, chúng ta cần phải tận dụng mọi diện tích đất sẵn có, dùng đúng vào mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được NN phê duyệt.

Để đảm bảo nguyên tắc này phải tuân theo những điều kiện sau:

+ Sử dụng đất trước hết phải theo quy hoạch và kế hoạch chung.

+ Đất đai phải sử dụng đúng mục đích mà cơ quan có thẩm quyền đã quyết định.

+ Tận dụng mọi đất đai vào sản xuất nông nghiệp, khai thác đất đai có hiệu quả, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nhận đất trống, độ núi trọc để sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

+ Tăng cường hiệu suất sử dụng đất, thâm canh tăng vụ, bố trí lại cây con hợp lý trong sản xuất, phân công lại lao động, dân cư,…

Nội dung:

+ Sử dụng đất hợp lí là việc sử dụng đất dựa trên cơ sở tính toán khoa học nhằm đảm bảo mục đích sử dụng đất phù hợp với khả năng sinh lợi từ đất, đảm bảo hoạt động lập, triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả cao.

+ Sử dụng tiết kiệm là việc khai thác một cách triệt để, tối đa lợi ích kinh tế do đất mang lại, tránh hiện tượng bỏ hoang đất đai, lãng phí đất đai.

Liên hệ: Hiện nay, ở nhiều tỉnh phía Nam có diện tích trồng lúa nước không mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong khi đó nếu sử dụng để nuôi trồng thủy sản mang lại lợi nhuận lớn cho người sản xuất nông nghiệp và cho nhu cầu xuất khẩu thì vấn đề đặt ra là phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng của tưng vùng mà khai thác đất đai có hiệu quả. Từ thực tế đó, cần hiểu việc sử dụng đất đai hợp lí và tiết kiệm trên tinh thần tận dụng mọi diện tích sẵn có dùng vào đúng mục đích quy định theo quy hoạc và kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt.

* Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp

Để bảo vệ và mở rộng vốn đất nông nghiệp cần phải xuất phát từ hai phương diện: Cần coi trọng việc thâm canh, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ trên diện tích đó và tích cực khai hoang mở rộng ruộng đồng từ vốn đất chưa sử dụng có khả năng nông nghiệp.

Trong tình hình hiện nay với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao diễn ra trên địa bàn cả nước đang ngày càng làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp dần. Trước tình hình đó, Nhà nước ta đã ra nhiều văn bản để hạn chế tình hình đó:

+ Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa nước, hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp.

+ Người sử dụng đất chuyên trồng lúa có trách nhiệm cải tạo, bồi bổ, làm tăng độ màu mỡ của đất.

Nội dung:

+ Hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích khác.

+ Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối để sản xuất.

+ Đối với tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp trong hạn mức sử dụng đất thì không phải trả tiền sử dụng đất nếu sử dụng vào mục đích khác  phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất và trả tiền sử dụng đất.

+ Nhà nước có quy định cụ thể về đất trồng lúa nước, điều kiện nhận chuyển nhượng đất trồng lúa nước và nghiêm cấm mọi hành vi chuyển mục đích từ loại đất này sang sử dụng vào mục đích khác.

+ Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân khai hoang, phục hóa, lấn biển, phủ xanh đất trống, đồi trọc sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

* Nguyên tắc thường xuyên cải tạo và bồi bổ đất đai

Đất đai có đời sống sinh học riêng, nếu con người vừa biết khai thác vừa biết cải tạo thì đất đai luôn mang lại hiệu quả kết tinh trong sản phẩm lao động, trái lại nếu tác động vào nó một cách thiếu ý thức thì kết quả sẽ mang lại cho chúng ta nhiều tiêu cực. Vì vậy cần phải phải thường xuyên cải tạo, bồi bổ đất đai vì mục tiêu trước mắt và lợi ích lâu dài.

+ Nhà nước khuyến khích các hành vi cải tạo, bồi bổ, đầu tư công của, làm tăng khả năng sinh lợi của đất.

+ Các chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ bắt buộc phải cải tạo, bồi bổ, làm tăng độ màu mỡ của đất, hạn chế khả năng đất bị rửa trôi, bạc màu do thiên tai gây ra ở mức thấp nhất.

+ Nghiêm cấm các hành vi hủy hoại đất đai, làm đất bạc màu,…

Nội dung:

+ Đất đai là vật tặng của thiên nhiên, là nơi diễn ra mọi hoạt động sống, sản xuất, kinh tế, chính trị… Việc khai thác và sử dụng đất có mang lại hiệu quả kinh tế hay không phục thuộc chủ yếu vào con người.

+ Đất đai có chu kì sinh học riêng nên việc khai thác và sử dụng đấ một cách khoa học, hợp lý sẽ mang tới giá trị phát triển bền vững.

error: Content is protected !!