Viện kiểm sát truy tố A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 3 năm tù). Khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm, xét thấy hành vi của A mà Viện kiểm sát đã truy tố phạm theo khoản 2 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 6 năm tù) thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết thế nào?

Hỏi: Viện kiểm sát truy tố A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 3 năm tù). Khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm, xét thấy hành vi của A mà Viện kiểm sát đã truy tố phạm theo khoản 2 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 6 năm tù) thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết thế nào?

Đáp: Viện kiểm sát truy tố A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 3 năm tù). Khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm, xét thấy hành vi của A mà Viện kiểm sát đã truy tố phạm theo khoản 2 Điều 134 BLHS (hình phạt luật định đến 6 năm tù). Trong trường hợp này, thẩm quyền xét xử vẫn không thay đổi, khi đó Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 1 và khoản 3 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì trong thời hạn luật định, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vì trong trường hợp này không có căn cứ để Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

Thứ hai, Khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định: “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.”

Như vậy, trong trường hợp này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa vẫn phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành theo trình tự, thủ tục như luật định.

error: Content is protected !!