Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013)?
Hỏi: Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013)?
Đáp:
* Khái niệm Tòa án: Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án.
* Khái quát chung: Trong tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Tòa án nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan hợp thành, là trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở Việt Nam. TAND thực hiện chức năng xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, vì vậy tổ chức và hoạt động của TAND vừa phải thực hiện các nguyên tắc chung trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vừa phải thực hiện các nguyên tắc riêng do pháp luật quy định. Một trong những nguyên tắc riêng của TAND đó là nguyên tắc TAND được tổ chức độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
– Khái niệm độc lập: Theo Từ điển Tiếng Việt, “độc lập” có nghĩa là tự mình tồn tại, hoạt động không nương tựa hoặc phụ thuộc vào bất kì ai hay vào cái gì khác. Như vậy, có thể hiểu khái quát, nguyên tắc này đề cao tính tự chủ, tự quyết định của những người nằm trong hội đồng xét xử một phiên tòa khi họ đưa ra phán quyết cuối cùng, tuyên một người là có tội hay vô tội.
– Khái niệm chỉ tuân theo pháp luật: Hiểu một cách cơ bản, “chỉ tuân theo pháp luật” có nghĩa là mọi hoạt động của hội đồng xét xử tại phiên tòa chỉ dựa trên một căn cứ duy nhất là những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến trình tự thủ tục, nội dung, cách thức giải quyết vụ án. Ngoài ra, hội đồng xét xử không được tự minh dựa vào các căn cứ nào khác mà chưa được luật ghi nhận, cho phép làm.
* Cơ sở hiến định: Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013. Hiến pháp 2013 đã bổ sung thêm quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” đã thể chế đầy đủ hơn nguyên tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
* Nội dung nguyên tắc:
– Thứ nhất, khi xét xử, các thành viên trong Hội đồng xét xử phải độc lập với nhau trong việc nhận định vụ án, đánh giá chứng cứ, diễn giải pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án. Tuy nhiên, do Hội thẩm chỉ tham gia vào quá trình xét xử mà không tham gia vào quá trình chuẩn bị xét xử cộng với thực trạng về chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng xét xử của Hội thẩm còn hạn chế chính là những thách thức lớn đối với tính độc lập của chức danh này.
– Thứ hai, tổ chức Đảng lãnh đạo hoạt động tư pháp (mang tính định hướng) nhưng không được can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án cấp trên không được phép chỉ đạo cho Tòa án cấp dưới xét xử một vụ án cụ thể theo ý chí của mình. Chánh án lãnh đạo hoạt động của Tòa án (chủ yếu về phương diện hành chính và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật) nhưng không phải là cấp trên của thẩm phám và hội thẩm khi xét xử. Hội đồng xét xử độc lập với các kết luận và quyết định của các cơ quan khi tiến hành tố tụng khác; độc lập với quan điểm của những người tham gia tố tụng (luật sư, người làm chứng, các đương sự…) cũng như độc lập nhất định trước dư luận xã hội trong việc đánh giá tính chất pháp lý của vụ việc và đưa ra phán quyết cuối cùng.
– Thứ ba, độc lập giữa các cấp xét xử đối với một vụ án được xét xử ở nhiều cấp. Tòa án xét xử theo thủ tục sơ thẩm không được xin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên trong việc xét xử các vụ án cụ thể. Tòa án xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm độc lập trong việc đánh giá chứng cứ, đưa ra các quyết định của mình theo đúng quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào các chứng cứ, kết luận và quyết định của Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
– Thứ tư, khi xét xử, Hội đồng xét xử chỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự áp đặt, chỉ đạo, chi phối bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào; độc lập trong việc đánh giá chứng cứ; xem xét, phân tích các tình tiết của vụ án; lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án vừa hợp tình vừa hợp lý.
Nguyên tắc này đòi hỏi các thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải luôn luôn đề cao ý thức cá nhân với tư cách là người nhân danh nhà nước thực hiện chức năng xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải thật sự chí công vô tư, kiên quyết bảo vệ pháp luật.
* Ý nghĩa nguyên tắc:
Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” góp phần vào việc đảm bảo cho quá trình xét xử được thực hiện một cách hiệu quả nhất. Nguyên tắc này là căn cứ giúp cho tòa án làm tốt các chức năng xét xử của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm. Nó khẳng định “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” là hai yếu tố quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Độc lập là điều kiện cần thiết để thẩm phán và hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Ngược lại, tuân theo pháp luật lại là cơ sở không thể thiếu để đảm bảo tính độc lập tại phiên tòa. Mối quan hệ này là ràng buộc, nếu chỉ độc lập mà không tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về xét xử thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán.
Nguyên tắc này không chỉ xác định độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là yếu tố cơ bản điều chỉnh hoạt động của hội đồng xét xử mà còn thể hiện rõ nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuyệt đối tôn trọng hoạt động này. Mọi hành vi can thiệp, gây ảnh hưởng tới việc xét xử công khai, đúng đắn, hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân dưới bất kì hình thức nào, tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lí kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật. Đây là nội dung mới được đưa vào nguyên tắc, thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta trong việc nâng cao tính độc lập của tòa án. Nó góp phần không nhỏ để nâng cao hiệu quả xét xử, hạn chế đến mức tối đa các trường hợp án oan sai, “án bỏ túi”, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Bởi chỉ khi chủ thể có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng trong vụ án thật sự độc lập, công minh, làm việc đúng với nội dung, trình tự thủ tục do pháp luật quy định thì mới đảm bảo bản án ấy là đúng người, đúng tội.
