Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành?
Hỏi: Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành?
Đáp:
* Khái niệm giám sát: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
* Mục đích của giám sát: Đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất. Quốc hội giám sát các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham ô, tham nhũng.
* Khái niệm giám sát tối cao: Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền. Giám sát tối cao là giám sát ở mức cao nhất (tại kỳ họp).
* Điều 69 Hiến pháp 2013 quy định: “”.
* Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành
– Đối tượng giám sát tối cao: Khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức Quốc hội.
– Nội dung của giám sát tối cao: Khoản 1 Điều 6.
– Hình thức của giám sát tối cao: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao thông qua những việc sau:
+ Xem xét báo cáo công tác của chủ thể thuộc khoản 2 Điều 6.
+ Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của văn bản quy phạm pháp luật của chủ thể thuộc khoản 2 Điều 6; Khoản 3, 5, 8 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội.
+ Khoản 1, Điều 88.
+ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội (Câu 24).
+ Hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm (Điều 12, 13 Luật Tổ chức Quốc hội). Mục đich của lấy phiếu tín nhiệm là đánh giá mức độ tín nhiệm để đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, còn bỏ phiếu tín nhiệm là cơ sở miễn nhiệm, bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội, phê chuẩn miễn nhiệm, cách chức.
– Hậu quả pháp lý:
+ Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản pháp luật thuộc đối tượng giám sát sát của Quốc hội nếu các văn bản đó trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
+ Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chắc danh được quy định tại Điều 12, 13.
+ Quốc hội có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm hoặc phê chuẩn miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
* Đánh giá: Trong mấy nhiệm kì gần đây, hoạt động giám sát của Quốc hội đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Nhưng do nhiều nguyên nhân nên trên thực tế hoạt động này còn có nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Hoạt động giám sát của Quốc hội mới chỉ dừng lại ở mức độ phát hiện và phân tích vấn đề, vụ việc rồi động viên, đôn đốc, nhắc nhở các ngành các cấp ở địa phương quan tâm, xem xét giải quyết vụ chứ chưa có những biện pháp thật sự hữu hiệu, chưa có các chế tài cần thiết. Để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, hoạt động giám sát của Quốc hội cần được đặt đúng tầm, tổ chức chu đáo và phải thường xuyên tăng cường thì mới mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng được mong muốn của nhân dân.
