Khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh, nguồn của luật nhân quyền quốc tế.

Hỏi: Khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh, nguồn của luật nhân quyền quốc tế.

Đáp: – Khái niệm: LNQQT Là một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại.
– Đối tượng:
● LNQQT điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể truyền thống của luật quốc tế chung (các nhà nước và tổ chức quốc tế…) trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người
● LNQQT điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhà nước và công dân của họ liên quan đến việc bảo đảm thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người (ví dụ, việc các Ủy ban giám sát công ước xem xét đơn khiếu nại, tố cáo của các cá nhân cho rằng họ là nạn nhân của những hành động vi phạm quyền con người do các chính phủ của họ gây ra…)
– Phương pháp điều chỉnh: Luật nhân quyền quốc tế cũng áp dụng những phương pháp điều chỉnh chung của luật quốc tế. Tuy nhiên, nhìn chung Luật nhân quyền quốc tế đặt trọng tâm vào các biện pháp vận động, gây sức ép quốc tế. Các biện pháp cưỡng chế (trừng phạt về quân sự, ngoại giao, kinh tế) mặc dù về nguyên tắc có thể sử dụng nhưng rất ít khi được áp dụng.
– Nguồn của LNQ quốc tế: gồm :Các điều ước quốc tế (chung hoặc riêng); Các tập quán quốc tế; Các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa nhận; Các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế; và Quan điểm của các chuyên gia pháp luật có uy tín cao.
● Các điều ước quốc tế (công ước, nghị định thư, có hiệu lực toàn cầu hay khu vực) về quyền con người do các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và thành viên của các tổ chức liên chính phủ khác thông qua. Đây là những văn kiện có hiệu lực ràng buộc với các quốc gia đã tham gia.
● Các nghị quyết có liên quan đến vấn đề quyền con người do các cơ quan chính và cơ quan giúp việc của Liên Hợp Quốc thông qua. Trong số này, chỉ có các nghị quyết của Hội đồng Bảo an là có hiệu lực pháp lý bắt buộc.
● Các văn kiện quốc tế khác về quyền con người (các tuyên bố, tuyên ngôn, khuyến nghị, nguyên tắc, hướng dẫn…) do Liên Hợp Quốc và các tổ chức liên chính phủ khác thông qua. Hầu hết các văn kiện dạng này không có hiệu lực ràng buộc pháp lý với các quốc gia, tuy nhiên, có một số văn kiện, cụ thể như UDHR, được xem là luật tập quán quốc tế, và do đó có hiệu lực thực tế như các điều ước quốc tế.
● Những bình luận, khuyến nghị chung (với mọi quốc gia) và những kết luận khuyến nghị (với những quốc gia cụ thể) do Ủy ban giám sát các công ước quốc tế về quyền con người đưa ra trong quá trình xem xét báo cáo của các quốc gia về việc thực hiện những công ước này, cũng như trong việc xem xét các đơn khiếu nại về việc vi phạm quyền con người của các cá nhân, nhóm cá nhân. Mặc dù về mặt pháp lý, những tài liệu dạng này chỉ có tính chất khuyến nghị với các quốc gia, song trên thực tế, chúng được xem là những ý kiến chính thức giải thích nội dung của các điều ước quốc tế về quyền con người và thường được các quốc gia tôn trọng, tuân thủ.
● Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế và một số tòa án khu vực về quyền con người (đặc biệt là các Tòa án quyền con người châu Âu và Toà án quyền con người Liên Mỹ).
● Quan điểm của các chuyên gia có uy tín cao về quyền con người (được thể hiện trong các sách và tài liệu chuyên khảo được thường xuyên trích dẫn).
các nghị quyết có liên quan đến vấn đề quyền con người do cá cơ quan chính và cơ quan giúp việc của LHQ thông qua. trong số này chỉ có các nghị quyết của HĐBA là có hiệu lực pháp lý hoặc bắt buộc.

error: Content is protected !!