“Nhân viên lễ tân làm trong nhà nghỉ đã cho khách nợ lại số tiền 11 triệu đồng người khách có viết giấy hẹn đến 3 hôm sau quay lại trả tiền cho nhà nghỉ. Nhưng người khách không trả tiền cho nhà nghỉ. Nhân viên đó đã tự ý nghỉ việc vì sợ phải đền tiền. Vậy nhân viên đó đã vi phạm những nghĩa vụ gì và chủ nhà nghỉ có thể kiện đòi bồi thường được không? “

Hỏi: Nhân viên lễ tân làm trong nhà nghỉ đã cho khách nợ lại số tiền 11 triệu đồng người khách có viết giấy hẹn đến 3 hôm sau quay lại trả tiền cho nhà nghỉ. Nhưng người khách không trả tiền cho nhà nghỉ. Nhân viên đó đã tự ý nghỉ việc vì sợ phải đền tiền. Vậy nhân viên đó đã vi phạm những nghĩa vụ gì và chủ nhà nghỉ có thể kiện đòi bồi thường được không?

Đáp: Đối với hành vi cho khách nợ tiền:
Nếu trong trường hợp nội quy của nhà nghỉ có quy định cho phép nhân viên cho khách nợ tiền nhà nghỉ thì nhân viên đó không vi phạm quy định của nhà nghỉ do đó không có trách nhiệm bồi thường cho nhà nghỉ. Bởi theo điểm b, khoản 2, Điều 5 Bộ luật Lao động 2019 quy định về nghĩa vụ của người lao động: “Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”
Nếu trong trường hợp nhà nghỉ không cho phép nhân viên cho khách nợ tiền, thì khi khách không trả tiền, nhân viên đó sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nhà nghỉ. Bởi chiếu theo Bộ luật Lao động 2019, nhân viên đó đã làm thất thoát, gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động. Do đó, nhân viên nhà nghỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 129 Bộ luật Lao động 2019 quy định về bồi thường thiệt hại:
“Điều 129. Bồi thường thiệt hại
1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này.”
Đối với hành vi tự ý nghỉ việc:
Người lao động tự ý nghỉ việc là trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Theo khoản 1, Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định về người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ:
“Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;”
Nếu nhân viên nhà nghỉ không thông báo nghỉ việc hoặc có thông báo nhưng không thực hiện trong thời hạn quy định tại khoản 1, Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, thì việc tự ý bỏ việc của anh nhân viên đó đã vi phạm nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng và phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 40 của Bộ luật Lao động 2019.
“Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Như vậy, nhân viên đó đã vi phạm nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng và vi phạm trách nhiệm bồi thường thất thoát tài sản. Do đó, chủ nhà nghỉ có quyền kiện ra tòa dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản và yêu cầu bồi thường khi người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật theo quy định của pháp luật.

error: Content is protected !!