Công ty chúng tôi vừa thực hiện cổ phần hóa. Hiện nay có một số công nhân nộp đơn xin chấm dứt HĐLĐ với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nhưng giám đốc Công ty không đồng ý. Họ vẫn gửi đơn và chấm dứt HĐLĐ theo hình thức đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Bên công ty vẫn bố trí đủ việc cho người lao động. Vậy Công ty chúng tôi có phải đền bù tiền trợ cấp thôi việc không? Tiền lương để làm căn cứ là ngày tháng năm nào, tính theo hiện tại hay là trước thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp?

Hỏi: Công ty chúng tôi vừa thực hiện cổ phần hóa. Hiện nay có một số công nhân nộp đơn xin chấm dứt HĐLĐ với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nhưng giám đốc Công ty không đồng ý. Họ vẫn gửi đơn và chấm dứt HĐLĐ theo hình thức đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Bên công ty vẫn bố trí đủ việc cho người lao động. Vậy Công ty chúng tôi có phải đền bù tiền trợ cấp thôi việc không? Tiền lương để làm căn cứ là ngày tháng năm nào, tính theo hiện tại hay là trước thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp?

Đáp: Theo khoản 2, Điều 35 Bộ luật lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không báo trước trong trường hợp dưới đây:
“2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.”
Đối với trường hợp của công ty bạn không thuộc các trường hợp trên, do đó khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ người lao động phải thực hiện nghĩa vụ báo trước theo khoản 1, Điều 35 Bộ luật lao động 2019. Nếu người lao động vi phạm nghĩa vụ báo trước thì trường hợp của bạn sẽ là đơn phương chấm dứt HĐ trái pháp luật theo Điều 39 Bộ luật lao động 2019.
Theo đó, người lao động sẽ phải thực hiện nghĩa vụ sau khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật:
“Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Theo khoản 3, Điều 46 Bộ luật lao động 2019 thì: “Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc”

error: Content is protected !!